Định nghĩa tích vectơ với một số, tính chất, điều kiện cùng phương, hệ thức trung điểm và trọng tâm, phân tích vectơ.
Quy tắc nhân vectơ với số thực, điều kiện cùng phương của hai vectơ, hệ thức trung điểm & trọng tâm, và phân tích một vectơ theo hai vectơ không cùng phương.
Với mỗi cặp vật đặt trên hai đầu của một thanh đòn $AB$, luôn có duy nhất một điểm $M$ thuộc $AB$ để nếu đặt trụ đỡ tại $M$ thì thanh đòn ở trạng thái cân bằng (Hình 4.20).
Điều trên còn đúng trong những trường hợp tổng quát hơn, chẳng hạn, thanh đòn được thay bởi một tấm ván hình đa giác $n$ đỉnh $A_1, A_2, \dots, A_n$, tại mỗi đỉnh $A_i$ có đặt một vật nặng $m_i\text{ (kg)}$. Ở đây, ta coi thanh đòn, tấm ván là không có trọng lượng. Trong Vật lí, điểm $M$ như trên được gọi là điểm khối tâm của hệ chất điểm $A_1, A_2, \dots, A_n$ ứng với các khối lượng $m_1, m_2, \dots, m_n\text{ (kg)}$.
Qua bài học này, ta sẽ thấy Hình học cho phép xác định vị trí điểm khối tâm của một hệ chất điểm thông qua phép nhân vectơ với một số.
Cho vectơ $\overrightarrow{AB} = \vec{a}$. Hãy xác định điểm $C$ sao cho $\overrightarrow{BC} = \vec{a}$.
a) Tìm mối quan hệ giữa $\overrightarrow{AC}$ và $\vec{a} + \vec{a}$.
b) Vectơ $\vec{a} + \vec{a}$ có mối quan hệ như thế nào về hướng và độ dài đối với vectơ $\vec{a}$?
Tích của một vectơ $\vec{a} \ne \vec{0}$ với một số thực $k > 0$ là một vectơ, kí hiệu là $k\vec{a}$, cùng hướng với vectơ $\vec{a}$ và có độ dài bằng $k|\vec{a}|$.
Trên một trục số, gọi $O, A, M, N$ tương ứng biểu diễn các số $0;\; 1;\; \sqrt{2};\; -\sqrt{2}$. Hãy nêu mối quan hệ về hướng và độ dài của mỗi vectơ $\overrightarrow{OM}, \overrightarrow{ON}$ với vectơ $\vec{a} = \overrightarrow{OA}$. Viết đẳng thức thể hiện mối quan hệ giữa hai vectơ $\overrightarrow{OM}$ và $\overrightarrow{OA}$.
Tích của một vectơ $\vec{a} \ne \vec{0}$ với một số thực $k < 0$ là một vectơ, kí hiệu là $k\vec{a}$, ngược hướng với vectơ $\vec{a}$ và có độ dài bằng $(-k)|\vec{a}|$.
Vectơ $k\vec{a}$ có độ dài bằng $|k||\vec{a}|$ và:
Phép lấy tích của vectơ với một số gọi là phép nhân vectơ với một số (hay phép nhân một số với vectơ).
Chứng minh rằng hai vectơ $\vec{a}$ và $\vec{b}\;(\vec{b} \ne \vec{0})$ cùng phương khi và chỉ khi tồn tại số $k$ để $\vec{a} = k\vec{b}$.
• Chiều thuận: Thật vậy, nếu $\vec{a} = k\vec{b}$ thì theo định nghĩa, $\vec{a}$ cùng hướng (khi $k \ge 0$) hoặc ngược hướng (khi $k < 0$) với $\vec{b}$, do đó $\vec{a}$ và $\vec{b}$ cùng phương.
• Chiều đảo: Ngược lại, giả sử $\vec{a}$ và $\vec{b}$ cùng phương:
– Nếu $\vec{a}$ và $\vec{b}$ cùng hướng, ta lấy $k = \frac{|\vec{a}|}{|\vec{b}|}$.
– Nếu $\vec{a}$ và $\vec{b}$ ngược hướng, ta lấy $k = -\frac{|\vec{a}|}{|\vec{b}|}$.
– Nếu $\vec{a} = \vec{0}$, ta lấy $k = 0$.
Khi đó luôn có đẳng thức $\vec{a} = k\vec{b}$.
Cho đường thẳng $d$ đi qua hai điểm phân biệt $A$ và $B$ (Hình 4.25). Những khẳng định nào sau đây là đúng?
Với $\vec{u} \ne \vec{0}$ và hai số thực $k, t$, những khẳng định nào sau đây là đúng?
Cả bốn khẳng định a, b, c, d đều ĐÚNG. Hai vectơ $k(t\vec{u})$ và $(kt)\vec{u}$ luôn có cùng độ dài và cùng hướng (cùng hướng với $\vec{u}$ nếu $kt \ge 0$, ngược hướng với $\vec{u}$ nếu $kt < 0$). Do đó ta luôn có: $k(t\vec{u}) = (kt)\vec{u}$.
Hãy chỉ ra trên Hình 4.26 hai vectơ $3(\vec{u} + \vec{v})$ và $3\vec{u} + 3\vec{v}$. Từ đó, nêu mối quan hệ giữa $3(\vec{u} + \vec{v})$ và $3\vec{u} + 3\vec{v}$.
Với hai vectơ $\vec{a}, \vec{b}$ và hai số thực $k, t$, ta luôn có:
Cho đoạn thẳng $AB$ có trung điểm $I$. Chứng minh rằng với điểm $O$ tuỳ ý, ta có $\overrightarrow{OA} + \overrightarrow{OB} = 2\overrightarrow{OI}$.
Vì $I$ là trung điểm của $AB$ nên $\overrightarrow{IA} + \overrightarrow{IB} = \vec{0}$ (Ví dụ 3a, Bài 8).
Do đó:
$$\overrightarrow{OA} + \overrightarrow{OB} = (\overrightarrow{OI} + \overrightarrow{IA}) + (\overrightarrow{OI} + \overrightarrow{IB}) = 2\overrightarrow{OI} + (\overrightarrow{IA} + \overrightarrow{IB}) = 2\overrightarrow{OI} + \vec{0} = 2\overrightarrow{OI}.$$
Cho tam giác $ABC$ có trọng tâm $G$. Chứng minh rằng với điểm $O$ tuỳ ý, ta có $\overrightarrow{OA} + \overrightarrow{OB} + \overrightarrow{OC} = 3\overrightarrow{OG}$.
Vì $G$ là trọng tâm của tam giác $ABC$ nên $\overrightarrow{GA} + \overrightarrow{GB} + \overrightarrow{GC} = \vec{0}$.
Với điểm $O$ bất kì, áp dụng quy tắc ba điểm ta có:
$$\overrightarrow{OA} + \overrightarrow{OB} + \overrightarrow{OC} = (\overrightarrow{OG} + \overrightarrow{GA}) + (\overrightarrow{OG} + \overrightarrow{GB}) + (\overrightarrow{OG} + \overrightarrow{GC})$$
$$= 3\overrightarrow{OG} + (\overrightarrow{GA} + \overrightarrow{GB} + \overrightarrow{GC}) = 3\overrightarrow{OG} + \vec{0} = 3\overrightarrow{OG}.$$
Trong Hình 4.27, hãy biểu thị mỗi vectơ $\vec{u}, \vec{v}$ theo hai vectơ $\vec{a}, \vec{b}$, tức là tìm các số $x, y, z, t$ để: $$\vec{u} = x\vec{a} + y\vec{b},\quad \vec{v} = z\vec{a} + t\vec{b}.$$
Cho hai vectơ không cùng phương $\vec{a}$ và $\vec{b}$ (Hình 4.28). Khi đó, mọi vectơ $\vec{u}$ đều biểu thị (phân tích) được một cách duy nhất theo hai vectơ $\vec{a}, \vec{b}$, nghĩa là có duy nhất cặp số thực $(x; y)$ sao cho:
Đây là định lí nền tảng giúp thiết lập hệ toạ độ và xác định toạ độ của mọi vectơ trong mặt phẳng toạ độ.
Cho tam giác $ABC$. Hãy xác định điểm $M$ để: $$\overrightarrow{MA} + 3\overrightarrow{MB} + 2\overrightarrow{MC} = \vec{0}.$$
Để xác định vị trí của $M$, trước hết ta biểu thị $\overrightarrow{AM}$ (với gốc $A$ đã biết) theo hai vectơ $\overrightarrow{AB}, \overrightarrow{AC}$.
Đẳng thức vectơ đã cho tương đương với: $$\overrightarrow{MA} + 3(\overrightarrow{MA} + \overrightarrow{AB}) + 2(\overrightarrow{MA} + \overrightarrow{AC}) = \vec{0}$$ $$\Leftrightarrow 6\overrightarrow{MA} + 3\overrightarrow{AB} + 2\overrightarrow{AC} = \vec{0}$$ $$\Leftrightarrow \overrightarrow{AM} = \frac{1}{2}\overrightarrow{AB} + \frac{1}{3}\overrightarrow{AC}.$$
Lấy điểm $E$ là trung điểm của $AB$ và điểm $F$ thuộc cạnh $AC$ sao cho $AF = \frac{1}{3}AC$.
Khi đó $\overrightarrow{AE} = \frac{1}{2}\overrightarrow{AB}$ và $\overrightarrow{AF} = \frac{1}{3}\overrightarrow{AC}$. Vì vậy $\overrightarrow{AM} = \overrightarrow{AE} + \overrightarrow{AF}$.
Suy ra $M$ là đỉnh thứ tư của hình bình hành $EAFM$.
Ta trở lại vấn đề đã được nêu trong phần đầu bài học. Điểm khối tâm $M$ của hệ các chất điểm $A_1, A_2, \dots, A_n$ với các khối lượng tương ứng $m_1, m_2, \dots, m_n$ được xác định bởi đẳng thức vectơ:
Vì vậy, việc xác định điểm khối tâm được quy về việc xác định điểm thoả mãn đẳng thức vectơ tương ứng.
Mặc dù dựa vào sức đẩy của gió, bằng cách chạy theo đường dích dắc, thuyền buồm vẫn có thể di chuyển tới một vị trí ở ngược hướng gió so với điểm xuất phát.
Ta hãy dùng kiến thức về vectơ để phân tích các lực chính tác động tới sự chuyển động của thuyền buồm trong trường hợp này:
Chất điểm $A$ chịu tác động của ba lực $\vec{F}_1, \vec{F}_2, \vec{F}_3$ như Hình 4.30 và ở trạng thái cân bằng (tức là $\vec{F}_1 + \vec{F}_2 + \vec{F}_3 = \vec{0}$). Biết $\vec{F}_1 \perp \vec{F}_2$, góc giữa $\vec{F}_2$ và $\vec{F}_3$ bằng $120^\circ$, và độ lớn của lực $\vec{F}_1$ là $20\text{ N}$.
Độ lớn của các lực $\vec{F}_2$ và $\vec{F}_3$ lần lượt là: